dich-vu-thanh-lap-doanh-nghiep-tphcmdich-vu-ke-toan-tron-goi-tphcmdich-vu-thanh-lap-cong-ty-tphcm

Các gói dịch vụ đăng ký kinh doanh tại TP. HCM

Thành lập công ty gói TIẾT KIỆM từ 3 - 5 ngày làm việc. Tại TP.HCM: 1.400.000 VNĐ - Tại Hà Nội từ 699.000 VNĐ (đã bao gồm phí dịch vụ và lệ phí nhà nước)
  1. Giấy phép đăng ký kinh doanh
  2. Mã số thuế + Mã số XNK
  3. Dấu tròn loại tốt
  4. Thông báo mẫu dấu trên cổng thông tin quốc gia
  5. Đăng bố cáo trên cổng thông tin quốc gia

Quy trình sử dụng dịch vụ

  • Bước 1
  • Khách hàng:
  1. Ghi đầy đủ thông tin vào Phiếu khai báo thông tin và gửi về email: thang@lasun.com.vn (TPHCM) hoặc info@hungphatgroup.net (Hà Nội)
  2. Chuẩn bị CMND sao y của người đại diện theo pháp luật và các thành viên (Sao y bản chính không quá 3 tháng)
  • Bước 2
  • Luật Hùng Phát:

1. Tư vấn tất cả các vấn đề liên quan đến việc thành lập công ty của quý khách hàng

2. Soạn hồ sơ và gửi email cho quý khách để kiểm tra và xác nhận

3. In hồ sơ và gửi khách hàng ký tên

4. Nhận CMND sao y và hồ sơ khác (nếu có)

  • Bước 3
  • Luật Hùng Phát: 
1. Tiến hành nộp hồ sơ tại Sở KHĐT

2. Nhận kết quả và tiến hành khắc dấu

2. Hoàn tất hồ sơ thuế và các điều khoản liên quan của gói dịch vụ

3. Bàn giao toàn bộ hồ sơ cho khách hàng

Tải Quyết định 961/QĐ-UBND 2017 mới nhất về việc Đề án phát triển kinh tế hợp tác Lâm Đồng 2020

Tải bản PDF
Tải bản Word

Một số nội dung chính trong Quyết định 961/QĐ-UBND năm 2017 Đề án phát triển kinh tế hợp tác tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020

Số hiệu: 961/QĐ-UBND Loại văn bản: Quyết định
Nơi ban hành: Tỉnh Lâm Đồng Người ký: Đoàn Văn Việt
Ngày ban hành: 04/05/2017 Ngày hiệu lực: 04/05/2017
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật

Căn cứ Luật Tổ chức Chính quyền địa phương ngày 2015/06/19;

Căn cứ Luật Hợp tác xã ngày 2012/11/20;

Căn cứ Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/03/2002 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) để tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế tập thể;

Căn cứ Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 02/01/2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 IX và Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X;

Căn cứ Kết luận số 56-KL/TW ngày 21/02/2013 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) để tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế tập thể có thể;

Căn cứ Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã;

Căn cứ Quyết định số 2261/QĐ-TTg ngày 2014/12/15 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015-2020;

Căn cứ Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 24/07/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh thực hiện triển khai các Luật Hợp tác xã;

Căn cứ Thông tư số 340/2016/TT-BTC ngày 29/12/2016 của Bộ Tài chính về hướng dẫn mức hỗ trợ và cơ chế hỗ trợ tài chính, bồi dưỡng nguồn nhân lực của các hợp tác xã, thành lập các hợp tác xã hội mới, tổ chức lại các hoạt động hợp tác theo chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015 – 2020;

Căn cứ Kế hoạch số 07-KH/TU ngày 2016/06/23 của Ủy ban kế hoạch thực hiện Kết luận số 56-KL/TW ngày 2013/02/21 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 19/CT TTg tỉnh ngày 24/07/2015 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2016-2020;

Căn cứ Quyết định số 14/2015/QĐ-UBND ngày 25/2/2015 của UBND tỉnh về việc ban hành quy định hỗ trợ các hợp tác xã xây dựng chính sách trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2015-2020;

Theo yêu cầu của Chủ tịch Hội Liên hiệp Hợp tác xã tỉnh,

PHÁN QUYẾT:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này chương trình hợp tác phát triển kinh tế đến năm 2020, tỉnh Lâm Đồng.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Điều 3. Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Thủ trưởng các ngành và các cơ quan trên địa bàn tỉnh; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố; Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này. /.

Nơi nhận:
– TTTU, HĐND tỉnh TT;
– CT, Hội đồng nhân dân tỉnh;
– Như đã nêu tại Điều 3;
– Lãnh đạo VPUBND tỉnh;
– Lưu: VT, TH2.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH

Doan Van Vietnam

KẾ HOẠCH

TỈNH ĐỒNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỢP TÁC LÂM ĐẾN NĂM 2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số 961/QĐ-Ủy ban 04 tháng 5 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng)

phần I

LỜI NÓI ĐẦU

I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN CÁC TỈNH PHÁT TRIỂN HỢP TÁC KINH TẾ LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2020

phát triển kinh tế tập thể là một trong những nội dung quan trọng về chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới của đất nước. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành chủ trương, chính sách để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tập thể. Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 18/03/2002 của Hội nghị lần thứ năm của Ủy ban Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế tập thể đã phải nhận thức thống nhất về quan điểm phát triển kinh tế tập thể.

Thực hiện các chủ trương của Đảng, Nhà nước đã từng bước được cải thiện pháp luật như Luật Hợp tác xã năm 2003, Luật Hợp tác xã sửa đổi vào năm 2012; Nghị định số 193/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 2013/11/21 quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã; Quyết định số 2261/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/12/2014 phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015-2020; Chỉ thị số 19/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/07/2015 về việc đẩy mạnh thực hiện triển khai các Luật Hợp tác xã; … Trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể, tỉnh Lâm Đồng đã ban hành một số cơ chế, chính sách cụ thể hoá và hỗ trợ để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

chính sách hỗ trợ từ nhà nước và hướng sự chú ý, hỗ trợ, giúp đỡ của các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp của tỉnh Lâm Đồng; số lượng hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tăng lên nhanh chóng trong những năm qua, quy mô, lĩnh vực hoạt động được mở rộng. Một số hợp tác xã được củng cố, đổi mới, mô hình tổ chức, hoạt động ngày càng phù hợp, từng bước khẳng định vai trò, vị trí của mình và không ngừng nâng cao thu nhập cho các thành viên, hỗ trợ tài chính góp phần phát triển gia đình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Hoạt động của các hợp tác xã trên địa bàn tỉnh đã mang lại nhiều lợi ích cho người dân, và cải thiện chất lượng cuộc sống và góp phần thay đổi nhận thức của người dân về các hình thức tổ chức sản xuất theo hướng hiệu quả và nhu cầu của thị trường,

Tuy nhiên, nền kinh tế tập thể của tỉnh Lâm Đồng vẫn còn tồn tại số hạn chế về kinh doanh hợp tác xã sản xuất kém hiệu quả, đem lại lợi ích cho các thành viên không phải là nhiều. Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tập thể là chậm, không ổn định. kinh tế tập thể chiếm một tỷ lệ thấp trong tổng sản phẩm xã hội, tỷ lệ đóng góp vào GRDP của tỉnh chưa cao. Nhiều hợp tác xã đã không tuân thủ các quy định của pháp luật; thiếu liên kết, hợp tác giữa các hợp tác xã trong sản xuất tạo ra sản phẩm chuỗi giá trị hàng hóa quan trọng có quy mô lớn; quản lý điều hành cấp, sản xuất kinh doanh còn yếu nên khả năng các kế hoạch xây dựng, phương án sản xuất kinh doanh và tính khả thi không cao, khả năng hội nhập quốc tế cũng thụ động, rủi ro tiềm ẩn, khả năng tiếp nhận khoa học và công nghệ còn hạn chế. chế độ báo cáo cho tất cả các ngành, các cấp có không đầy đủ và kịp thời, không thường xuyên do đó hạn chế đáng kể để hỗ trợ thông tin, giúp cho Hợp tác xã. Lãnh đạo và chỉ đạo từ các nhà chức trách đã không đáp ứng yêu cầu của sự phát triển; …

Trong quá trình đổi mới đất nước, nền kinh tế tập thể được định nghĩa là một ngành kinh tế có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần vào tăng trưởng kinh tế, mà còn có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, địa phương. Chính trị Báo cáo Quốc hội khoá XII, quyết tâm của Đảng Quốc gia: “Để khuyến khích sự phát triển bền vững của hợp tác kinh tế, cốt lõi là một hợp tác với nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng; tái tạo sự hợp tác mô hình kinh tế có hiệu quả; tạo điều kiện phát triển kinh tế của bảo vệ hiệu quả trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; góp phần vào việc hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ; bảo đảm hài hòa lợi ích của các bên liên quan tham gia.

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của hợp tác kinh tế trong nền kinh tế quốc gia, phát huy sức mạnh của liên kết, hợp tác kinh tế của các hộ gia đình; đồng thời, tiếp tục củng cố và phát triển hợp tác kinh tế, cốt lõi là một nhu cầu hợp tác để phát triển một dự án hợp tác phát triển kinh tế đến năm 2020, trong đó đề ra mục tiêu, biện pháp và chính sách hỗ trợ thích hợp quan trọng, tạo tiền đề phát triển trong giai đoạn tiếp theo .

II. ĐỀ ÁN XÂY DỰNG PHÁP LUẬT:

– Luật Hợp tác xã số 23/2012/QH13 ngày 2012/11/20;

– Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 2002/03/18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) để tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế tập thể;

– Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 02/01/2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 IX và Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X;

– Kết luận số 56-KL/TW ngày 21/02/2013 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) để tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế tập thể;

– Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã;

– Quyết định số 2261/QĐ-TTg ngày 2014/12/15 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015-2020;

– Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 2015/07/24 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh thực hiện triển khai các Luật Hợp tác xã;

– Thông tư số 340/2016/TT-BTC ngày 29/12/2016 của Bộ Tài chính về hướng dẫn mức hỗ trợ và cơ chế hỗ trợ tài chính, bồi dưỡng nguồn nhân lực của các hợp tác xã, hợp tác xã thành lập mới, tổ chức lại các hoạt động hợp tác dưới chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015 – 2020;

– Kế hoạch số 07-KH/TU ngày 2016/06/23 của Ủy ban kế hoạch thực hiện Kết luận số 56-KL/TW ngày 2013/02/21 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày tỉnh 2015/07/24 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2016-2020;

– Quyết định số 14/2015/QĐ-UBND ngày 25/2/2015 của UBND tỉnh về việc ban hành quy định hỗ trợ các hợp tác xã xây dựng chính sách trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2015-2020,

phần II

ĐÁNH GIÁ THỰC TẾ CỦA TỈNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ GIAI ĐOẠN 2011 – 2015

I. TỔNG QUAN VỀ TÌNH TRẠNG ĐÁNH GIÁ VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỢP TÁC XÃ, HỢP TÁC XÃ VÀ LIÊN HIỆP HỢP TÁC XÃ

1. Hợp tác xã (HTX):

– Trong giai đoạn từ 2011 – 2015, toàn tỉnh có 84 hợp tác xã mới thành lập, giải thể hợp tác xã 13, 33 hợp tác xã hợp tác xã tổ chức hoạt động theo Luật năm 2012. Tính đến 2015/12/31, toàn tỉnh có 190 hợp tác xã, tăng 6% so với năm 2011 . của 190 hợp tác xã với 37 hợp tác xã theo dựa vào tài sản chung (Quỹ tín dụng nhân dân 19 và 18 lĩnh vực hợp tác xã), 124 dựa thuê hợp tác, mượn, và 29 hợp tác xã đang ngừng hoạt động và không có trụ sở chính. hợp tác phân loại vào năm 2015, có 48 hợp tác xã có lớp xuất sắc (25%), 31 hợp tác xã có điểm tốt (16%), 49 hợp tác xã đạt được trung bình (26%), 11 hợp tác xã có loại yếu, kém (6%), 29 hợp tác xã không hoạt động (15%) và 22 hợp tác xã không được phân loại (12%).

– Tổng số xã viên là 105.887 thành viên vào năm 2015, tăng 33.576 thành viên so với năm 2011, thành viên tăng chủ yếu là các thành viên của khối Quỹ tín dụng nhân dân. Tổng số lao động làm việc thường xuyên trong các hợp tác xã năm 2015: 12.565 lao động, trong đó có các thành viên của hợp tác xã lao động: 12 239 người và lao động không phải là một thành viên hợp tác xã: 326 người.

– Tổng số cán bộ quản lý Hợp tác xã năm 2015: 650 người, tăng 422 nhân viên so với năm 2011. Trong đó: cán bộ quản lý của hợp tác xã được đào tạo đạt trình độ sơ cấp, trung cấp: 168 người (26%); Một số hợp tác xã quản lý có trình độ cao đẳng, đại học: 144 người (22%); còn lại là chưa qua đào tạo.

– Doanh thu bình quân của hợp tác xã đạt 6431 triệu đồng / HTX / năm, đạt 100% so với mục tiêu kế hoạch năm 2011 – 2015. Trong đó, doanh thu của hợp tác xã cho các thành viên: 4175000000 / HTX / năm.

– Lãi trung bình vào năm 2015: 103 triệu đồng / hợp tác xã, tăng 24 triệu so với năm 2011. Thu nhập bình quân của người lao động làm việc thường xuyên trong các hợp tác xã năm 2015 đạt 36 triệu.

– tỷ lệ đóng góp của họ để GRDP vào năm 2015 là 1% xuống còn 91% so với kế hoạch (kế hoạch 2011-2015: 1,1%) và 0,51% so với năm 2011.

2. Liên hiệp các Hợp tác xã (LHHTX): Hiện nay, toàn tỉnh có 02 LHHTX, 50% kế hoạch 2011-2015 (dự kiến: 4 LHHTX).

3. hợp tác (THT): Đến năm 2015, toàn tỉnh có 240 hoạt động THT trong lĩnh vực nông nghiệp, với 5.816 thành viên tích cực theo quy định tại Nghị định 151/2007 / NĐ-CP ngày 10/10 / 2007 của Chính phủ. Trước đây khi các địa phương thống kê THT, bộ phận của THT thống kê tỉnh bao gồm tiết kiệm và vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội là 3.731 THT. Sau khi xem xét, toàn tỉnh hiện có 240 THT chỉ hoạt động theo Nghị định 151/2007 / NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ và các phần còn lại của các hoạt động THT không đáp ứng điều kiện quy định không thống kê trong chương trình này.

II. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHƯ CÁC HOẠT ĐỘNG TẬP THỂ

1. Ngành nông nghiệp (nông – lâm – ngư nghiệp):

a) LHHTX: Có 02 LHHTX, bao gồm:

– LHHTX 1 Lâm Đồng có 09 xã viên và 01 cá nhân làm việc trong mô hình để đại diện cho các thành viên để ký hợp đồng, như đại lý cấp 1 cung cấp phân bón cho các đơn vị thành viên, kết quả hoạt động đã mang lại hiệu quả cho các thành viên của từng xã viên LHHTX và hợp tác xã.

– rau LHHTX Hưng Phát Đà Lạt 4 xã viên và 01 cá nhân hoạt động theo mô hình dịch vụ nông nghiệp, giới thiệu thị trường cho các thành viên và trực tiếp đưa sản phẩm của các thành viên để có khách hàng trong và ngoài tỉnh, đã mang lại hiệu quả kinh doanh cao cho các thành viên và LHHTX.

b) Hợp tác xã: Tính đến 31/12/2015, trên toàn tỉnh có 110 hợp tác xã, đại diện cho 57,8% số hợp tác xã của tỉnh, tăng so với năm 2011. 51 hợp tác xã bao gồm 76 hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp 21 canh tác hợp tác xã, hợp tác xã chăn nuôi 12 , 01 hợp tác xã nuôi trồng thủy sản (78 hợp tác xã đang hoạt động sản xuất kinh doanh, 18 hợp tác xã downtime, 14 hợp tác xã mới thành lập), với 5618 thành viên (giảm 17% so với năm 2011), tổng số lao động thường xuyên làm việc trong hợp tác xã là 8069 người.

Tổng vốn điều lệ của hợp tác xã là 198 839.000.000 (trung bình hơn 1.800 triệu đồng / hợp tác xã). Doanh thu bình quân của 1 Hợp tác xã khoảng 6431 triệu đồng / năm (tăng 34% so với năm 2011); lợi nhuận bình quân khoảng 103 triệu 1 HTX / năm. Thu nhập bình quân của các thành viên hộ gia đình đạt 6 triệu đồng / tháng, người lao động thuê trong hợp tác xã đạt 4 triệu đồng / tháng. Tỷ lệ đóng góp của tỉnh để GRDP trong giai đoạn 2011-2015 là 0,8%.

Các cấp quản lý của nhân viên hạn chế hợp tác xã (69,3% đã đạt được mức độ cao về giáo dục và 30,7% trung học), chỉ có 39,7% cán bộ quản lý chuyên ngành đào tạo hợp tác xã nông nghiệp, quản lý kinh tế ….

tình hình hoạt động như sau:

– Đối với hoạt động hợp tác xã (30 hợp tác xã, 27%): doanh thu trung bình vào năm 2015 10.300 triệu đồng / năm, tỷ lệ trung bình 133 triệu đồng / năm; chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp, làm vườn, sữa, đây là nhà sản xuất tài nguyên hợp tác xã, có phương pháp để làm kinh doanh năng động, ổ cắm chủ động cho sản phẩm, cán bộ quản lý có trình độ, mạnh dạn xác định hướng mới, liên kết với các doanh nghiệp cung cấp vật tư đầu vào nông nghiệp và ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản.

– Đối với hợp tác xã vừa hoạt động (38 hợp tác xã, 35%): Hầu hết trong số đó là các hợp tác xã mới thành lập có một số thành viên ít hơn, các nhà quản lý không có kinh nghiệm, một số kế hoạch sản xuất hợp tác xã không ổn định chung, chẳng hạn như: chưa bắt kịp nhu cầu thị trường, khó khăn trong việc bán sản phẩm, sản lượng không ổn định.

– Đối với các hoạt động hợp tác xã còn yếu, nhàn rỗi hoặc chờ giải thể (28 hợp tác xã, 25%): Làm việc quản lý yếu kém, kế hoạch kinh doanh là không khả thi, ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp thiếu dẫn chặt chẽ để doanh nghiệp không mua sản phẩm; cá nhân có một số hợp tác xã được thành lập để được hưởng lợi từ các chính sách hỗ trợ của nhà nước.

– 14 hợp tác xã mới thành lập (13%, không có phân loại và đánh giá).

c) THT: Hiện nay toàn tỉnh có 240 THT (tăng 39 THT so với năm 2011) với 5.816 thành viên, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi, các THT cách chủ động cùng nhau tham gia vào việc sản xuất một loại sản phẩm, cùng tìm kiếm các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; hỗ trợ vay vốn hỗ trợ lẫn nhau, chuyển giao tiến bộ khoa học và kỹ thuật.

Trong ngành chăn nuôi chủ yếu là thực hiện các nghiên cứu tương tự, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi, hợp tác trong việc bán sản phẩm, hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh, chọn giống, thức ăn chăn nuôi. Các nhóm hợp tác xã nông nghiệp phát triển mạnh ở các huyện phía Nam của tỉnh.

Trong lĩnh vực trồng trọt của THT được hình thành bởi các cá nhân, hộ gia đình có đất để sản xuất nông nghiệp riêng của mình liên quan đến việc sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, và đóng góp để mua hạt giống, thiết bị và vật sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đầu vào nông nghiệp để tiết kiệm chi phí vận chuyển, thuê máy móc phục vụ sản xuất, phòng chống các bệnh và đảm bảo chất lượng nông sản để thị trường, thiết kế đồng đều, cùng loại với số lượng lớn. Các THT tích cực tìm kiếm đối tác để cung cấp các dịch vụ đầu vào và tiêu thụ sản phẩm.

2. Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND):

– Cho đến nay, toàn tỉnh có 21 PCF, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực nông thôn, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, các khoản vay ưu tiên cho các thành viên là cá nhân, hộ gia đình sử dụng vốn vay với phục vụ mục đích sản xuất nông nghiệp. Số lượng thành viên là khoảng 97 877 đến cuối năm 2015 các thành viên; đó, kết nạp tổ viên mới là 13.250 thành viên, tăng 16 875 thành viên của kế hoạch. Tổng số cán bộ quản lý trong PCF 110 người; trong đó 50 cán bộ đạt trình độ sơ cấp, trung cấp và cao cấp đạt 63 người, đại học.

– Tổng doanh thu trên 1 PCF thực hiện trong giai đoạn 2011-2015: 293 155 triệu, đạt 117% so với kế hoạch; PCF tỷ lệ trung bình 1: 2.826 triệu đồng, đạt 107% so với kế hoạch. Thu nhập bình quân của người lao động: 99 triệu đồng / năm, vượt 15 triệu so với kế hoạch.

– Hiện nay, QTDND loại hợp tác có hiệu quả cao nhất so với các loại khác của hợp tác xã. Đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế – an sinh xã hội và chính trị của địa phương và đóng góp tích cực vào việc tái cơ cấu nền kinh tế, lao động giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội. Một số QTDND hoạt động ổn định, tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao qua các chỉ số hoạt động, tiêu biểu: PCF Liên Nghĩa (Đức Trọng); Lushan PCF, PCF B’Lao, PCF Phường 2 (Bảo Lộc). Mặt khác, do đặc điểm của QTDND được tổ chức hoạt động tín dụng, điều kiện kinh doanh, được điều chỉnh bởi hai luật (Luật Hợp tác xã, Luật các tổ chức tín dụng) cho công tác quản lý và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, hoạt động của PCF cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn, chẳng hạn như lãi suất và cho vay liên tục thay đổi,

3. Phạm vi Công Thương:

– Toàn tỉnh hiện có 34 hợp tác xã được tham gia vào các hoạt động trong các lĩnh vực thương mại, tăng 14 HTX so với cuối năm 2011, trong đó 29 ngành công nghiệp hợp tác xã – tiểu thủ công nghiệp (dệt, chế biến đan, sản xuất sản xuất thổ cẩm, chế biến nông lâm sản, sản xuất bao bì màng nhựa …) và 05 hợp tác xã thương mại. Cho đến nay, không có thành lập THT, LHHTX ngành công nghiệp và thương mại.

– Tổng số thành viên: 430 thành viên tăng, 106 thành viên so với năm 2011, trong khi tổng giảm lực lượng lao động của 184 nhân viên so với năm 2011. Tổng số lao động thường xuyên trong việc thực hiện hợp tác 2011-2015 đạt 2.959 người, bằng 72,7% so với mục tiêu kế hoạch .

– Doanh thu bình quân 1 Hợp tác xã năm 2015: 458.400.000. Doanh thu bình quân cho giai đoạn 2011-2015 bằng 50,54% so với mục tiêu kế hoạch (doanh thu năm 2011 đạt 1.475 triệu, 458.400.000 vào năm 2015).

– Lợi nhuận trung bình của hợp tác xã năm 2015 76,5 triệu. So với mục tiêu kế hoạch cho giai đoạn 2011-2015 chỉ là 50,57%. Nguyên nhân là thấp do các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm của hợp tác xã thủ công mỹ nghệ, nông lâm sản chững lại và suy giảm, sự đóng góp giá trị của các hợp tác xã thương mại giảm trong những năm qua.

– Thu nhập bình quân của các thành viên: Năm 2011, 16,8 triệu / năm, năm 2015 19,2 triệu / năm, bằng 92,5% so với kế hoạch đề ra.

4. Phạm vi Vận tải – Giao thông vận tải:

– Toàn tỉnh hiện có 21 hợp tác xã, trong giai đoạn 2011-2015 mới được thành lập 03 hợp tác xã và hợp tác xã giải thể 1. Tổng số thành viên của hợp tác xã hiện có: 717 thành viên và 767 loại quản lý cơ sở vật chất, trong đó có 368 xe khách, 125 xe tải, 205 xe taxi, 57 du thuyền và 40 xe máy phục vụ khách du lịch. Tổng số lao động khoảng 1.300 người.

– Tổng vốn của hoạt động hợp tác: 306.000 triệu đồng, tổng lợi nhuận: 24.000 triệu đồng / năm, nộp thuế: 2.800 triệu đồng / năm. Thu nhập bình quân của cán bộ quản lý: 54 triệu đồng / năm.

– Các hợp tác xã giao thông vận tải hoạt động chủ yếu: Vận chuyển hành khách trên tuyến cố định, theo hợp đồng; hợp đồng cung cấp cho xe ô tô chở khách và xe tải; tuyến đường tiếp tế mở trong và ngoài xe buýt tỉnh. Bên cạnh đó, hợp tác xã cũng đứng ra làm thủ tục cho các thành viên, chẳng hạn như giấy phép kinh doanh, giới thiệu đăng ký, đại lý bảo hiểm bán xe có động cơ, …

5. Phạm vi Travel – Dịch vụ:

Tính đến cuối năm 2015, lĩnh vực du lịch và dịch vụ chỉ có 3 hợp tác xã. Hiện nay, 1 hợp tác xã là tổ chức củng cố theo Luật Hợp tác xã, 2 hợp tác xã đang làm thủ tục giải thể hoàn tất. Tổng số hợp tác xã thành viên có 74 người, các hộ gia đình thành viên tuân thủ các quy định về kinh doanh lưu trú du lịch. Các hợp tác xã đang hoạt động có sự phối hợp tốt giữa các thành viên của xe bán tải, khuyến mãi bền vững của du lịch văn hóa tại Đà Lạt, quy định chung của nhà nước trong quản lý du lịch, khách sạn. Khách sạn – nhà nghỉ là thành viên của hợp tác xã dần dần các cơ sở có vốn đầu tư, nâng cấp thiết bị và dịch vụ bổ sung cho khách hàng. Tuy nhiên, HTX vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của các thành viên trong quá trình hoạt động, thiếu sự liên kết trở ngại.

6. Ngành xây dựng:

Đến năm 2015, ngành xây dựng phối hợp với các vận động địa phương, vận động hợp tác xã mới được thành lập với 10 thành viên đầu tiên tham gia. Hoạt động chủ yếu là xây dựng, cơ sở hạ tầng, nhỏ, lẻ như: cầu, nghĩa trang …

III. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CƠ CHẾ VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA TẬP THỂ

Trong giai đoạn 2011-2015, các chính sách liên quan đến đất đai, tài chính, tín dụng, đào tạo cán bộ nói chung và trong các hợp tác xã nói riêng thay đổi so với năm trước. Tuy nhiên, các cấp, các ngành và địa phương trong tỉnh đã triển khai kịp thời và đúng với các quy định của Trung ương, tỉnh; nhiều vướng mắc, tồn tại để được xem xét giải quyết, tạo sự tin tưởng của nhân viên và người lao động của hợp tác xã cho các dòng, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể, đặc biệt là can:

1. Hỗ trợ chính sách, khuyến khích sự sáng tạo, bồi dưỡng và đào tạo của HTX, LHHTX, THT

– Thực hiện chính sách hỗ trợ và khuyến khích việc thành lập mới: Trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh Lâm Đồng đã hỗ trợ việc thành lập 50 hợp tác xã mới, với tổng kinh phí hỗ trợ: 449 triệu ngân sách từ Trung ương Trung Quốc, giảm 7 HTX so với kế hoạch (57 hợp tác xã, kinh phí 569.000.000).

– Các chính sách về đào tạo, bồi dưỡng: Trong giai đoạn 2011-2015, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ hợp tác xã nông nghiệp: 1.271 sinh viên với tổng ngân sách hỗ trợ từ ngân hàng trung ương Ngân sách: 1,354 triệu. Liên minh Hợp tác xã tỉnh phối hợp với tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đào tạo, bồi dưỡng cho 270 cán bộ, hội viên; phối hợp với các tổ chức Hội Nông dân tỉnh và Cựu chiến binh bồi dưỡng tỉnh cho 1.450 cán bộ, hội viên, với tổng kinh phí: 1.655 triệu. Sở Thương mại tổ chức 3 nâng cao năng lực quản lý lớp học cho các nhà lãnh đạo của các hợp tác xã, với ngân sách 100 triệu. Sở Khoa học và Công nghệ hướng dẫn và tư vấn cho 10 hợp tác xã, thủ tục đăng ký THT cho việc thiết lập các quyền và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp; tổ chức 4 lớp bảo vệ bằng sáng chế, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp,

2. Chính sách hỗ trợ đất:

– Một số huyện đã thực hiện hỗ trợ cho các hợp tác xã khi sử dụng đất đất xã viên không có tranh chấp, đã giấy tờ hợp lệ sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nếu mục đích chuyển giao được miễn cho việc thay đổi mục đích sử dụng. Để thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể, chính quyền địa phương cũng tạo điều kiện cho việc thành lập các hợp tác xã nông nghiệp cho thuê đất và miễn tiền thuê đất trong 5 năm; các hợp tác xã phi nông nghiệp trên địa bàn xã đặc biệt khó khăn được miễn tiền thuê đất trong 10 năm đầu và giảm 50% trong 10 năm tới.

– Hỗ trợ Trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện đối với đất hợp tác xã, cụ thể là: việc giao đất miễn phí cho 1 sử dụng đất hợp tác xã, diện tích đất được giao: 2.700 m2; 4 thuê Hợp tác xã với diện tích 65 896 m2 và tổng diện tích 4 hợp tác xã giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 20 804 m2 tổng diện tích.

3. Về chính sách thuế:

Nhiều chính sách áp dụng chung miễn thuế đối với hợp tác xã, THT; doanh thu hợp tác xã sản phẩm tin từ trồng trọt và chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản là việc miễn thuế giá trị gia tăng. Việc miễn thuế hợp tác trong quá trình khởi động, chính sách là để tạo điều kiện cho các hợp tác xã tăng vốn lưu động, giảm bớt khó khăn trong giai đoạn đầu.

Chính sách 4. Tín dụng:

– Trong giai đoạn 2011-2015, các Hợp tác xã Quỹ Hỗ trợ phát triển (vốn điều lệ 6.000 triệu đồng) đã giải quyết 28 trường hợp xoay vốn vay với tổng dư nợ 10 240 triệu.

– 2015, Quỹ Quốc gia về việc làm đã giải quyết cho 6 khoản vay hợp tác xã, với tổng dư nợ 1.300 triệu.

– Trong giai đoạn 2011-2015, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh có 15 khoản vay hợp tác xã với doanh số cho vay là 229 tỷ đồng. Riêng trong năm 2015, dư nợ tín dụng của 19 tỷ / 08 Hợp tác xã.

5. Hỗ trợ cho các hoạt động xúc tiến thương mại:

– Trong giai đoạn 2011-2015, toàn tỉnh đã tổ chức hội chợ, triển lãm, trình bày cho 51 hợp tác xã tham gia, với tổng kinh phí hỗ trợ 1.179 triệu.

– Sở Công Thương tổ chức hội nghị kết nối các nhà sản xuất, nhà phân phối; tổ chức tham gia trung bình 4 hội chợ / năm cho phép hợp tác xã trưng bày, giới thiệu, quảng bá sản phẩm, chẳng hạn như thêu tay, thổ cẩm, len, hàng thủ công mỹ nghệ … để thiết lập mối quan hệ, xúc tiến thương mại, tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường, với tổng kinh phí khoảng 360 triệu hỗ trợ. Xây dựng hỗ trợ 03 trình diễn các sản phẩm kỹ thuật sản xuất thủ công mỹ nghệ, với tổng kinh phí 220 triệu (HTX đan bằng mây, tre, bụi bẩn Anping – Hợp tác xã Cát Tiên len móc khuyết tật Tiếp cận Up hợp tác Đức Trọng).

6. Hỗ trợ cho khoa học và chuyển giao công nghệ:

Trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh Lâm Đồng đã hỗ trợ cho việc chuyển giao hợp tác về khoa học và công nghệ, các ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao trong nông nghiệp cho 83 hợp tác xã với sự hỗ trợ kinh phí 5077000000 (Sở Khoa học và công nghệ hỗ trợ cho 1 đơn vị quản lý chất lượng áp dụng hệ thống ISO 9001: 2008; hỗ trợ cho 5 đóng công nghệ hội chợ hợp tác và thiết bị trong khu vực và các nước như Techmart Đồng Nai, Quảng Nam, Hà Nội …); đồng thời triển khai nhiều mô hình khuyến nông, hỗ trợ sản xuất.

IV. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LUẬT NĂM 2012 Hợp tác xã

1. Luật Hợp tác xã thực hiện trong năm 2012:

Sau khi kết thúc 56-KL / TW của Bộ Chính trị và Luật Hợp tác xã năm 2012 đã ban hành với các nghị định, thông tư, chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan Trung ương; Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành một số văn bản hướng dẫn về kinh tế tập thể đã thể hiện sự quan tâm, nghiêm túc trong sự chỉ đạo và thực hiện; đồng thời, làm cơ sở cho tất cả các cấp, các ngành và địa phương thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế tập thể, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Ngành và Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố để thúc đẩy công tác tuyên truyền và phổ biến các nghị quyết, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể dưới nhiều hình thức; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã để tham gia vào chương trình xây dựng nông thôn và phát triển kinh tế mới – trong xã hội địa phương. Lập kế hoạch và thực hiện đầy đủ các chương trình và chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với hợp tác xã; củng cố thường xuyên của bộ máy quản lý nhà nước của nền kinh tế tập thể. Tập trung xây dựng các mô hình THT, liên kết hợp tác với các doanh nghiệp, từ khâu sản xuất đến khâu chế biến, đóng gói và tiêu thụ sản phẩm để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị hàng hóa của THT và HTX. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chủ động phối hợp thực hiện công tác tuyên truyền tốt, vận động nhân dân tự nguyện tham gia phát triển kinh tế tập thể; Chiến dịch đội ngũ phát triển hợp tác, hợp tác xã.

Uỷ ban, chính quyền địa phương đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện củng cố, đổi mới, phát triển kinh tế tập thể để loại hình kinh tế đang ngày càng góp phần quan trọng để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế -, an ninh chính trị duy trì xã hội, cải thiện đời sống nhân dân tại địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn một số khu vực trong nhiều năm không phát triển mới được phát triển hợp tác xã hoặc rất chậm, chẳng hạn như các huyện Đam Rông, huyện Huoai, huyện Lạc Dương.

Liên minh Hợp tác xã tỉnh phối hợp với các phòng ban và địa phương thực hiện nhiều hoạt động thiết thực nhằm hỗ trợ sự phát triển của nền kinh tế tập thể; thực hiện đầy đủ các cơ chế, chính sách của chính quyền trung ương, viện trợ phát triển của tỉnh để hợp tác xã. giao tiếp tích cực đối với các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước đổi mới, cộng đồng phát triển kinh tế để thu hút thành viên trở lên và tạo ra mối quan hệ giữa Liên hiệp các tỉnh Hợp tác xã và cơ sở, các prop, cây cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên khi Đảng nó bị xâm phạm hoặc có tranh chấp.

2. Tình hình chuyển đổi hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012:

Tính đến 2015/12/31, toàn tỉnh đã thực hiện chuyển đổi là 33 hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012. Hiện nay có khoảng 60 hợp tác xã đăng ký chuyển đổi theo quy định. Mặc dù UBND tỉnh và các cơ quan khác thường xuyên để hướng dẫn, giám sát việc đăng ký công việc nhưng chuyển đổi Luật Hợp tác xã Hợp tác xã năm 2012 là chậm hơn so với quy định. Lý do chính tại sao: Việc kiểm tra và hướng dẫn của cơ quan được giao nhiệm vụ của nhóm phát triển kinh tế tại địa phương không đồng đều và thường xuyên, không tham mưu cho ủy ban và cơ quan quản lý để chỉ đạo thực hiện. Bên cạnh đó, lãnh đạo các hợp tác xã không tham gia vào việc xây dựng và chuyển đổi tập tin đăng ký hoàn thiện …

V. MỘT SỐ MÔ HÌNH VÀ HIỆU QUẢ LINK MODEL STYLE Hợp tác xã MỚI

1. Mô hình liên kết chuỗi giá trị và các loại mới của hợp tác xã trong nông nghiệp

Trong những năm gần đây, sản xuất liên kết – tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, mặc dù vẫn còn khó khăn, nhưng đã có nhiều phát triển gắn liền với nhiều hình thức phong phú và đa dạng; qua đó góp phần giúp nông dân có định hướng tốt hơn trong việc tổ chức sản xuất, giải quyết tốt cho đầu ra. Một số liên kết phổ biến hiện nay trên địa bàn tỉnh là:

– Liên kết giữa các doanh nghiệp và THT: Hiện nay, toàn tỉnh đã hình thành nhiều liên kết sản xuất giữa các doanh nghiệp và các THT cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước. Với phương pháp sư này, vốn đầu tư của công ty, giống, kỹ thuật canh tác và sản lượng thị trường tiêu dùng tìm kiếm; nông dân bỏ hoang sản xuất nông nghiệp, lao động trực tiếp, vốn và sản xuất nông nghiệp tự chịu trách nhiệm theo hợp đồng đã ký kết. Các tổ hợp tác thực hiện một cách hiệu quả với liên kết này là: THT Dalat Hasfarm Cut Flowers liên kết Đà Lạt Công ty Hasfarm; THT sữa liên kết Công ty Cổ phần Hiệp Thanh Sữa Đà Lạt; THT Rau, hoa Đà Thanh an toàn liên quan đến việc Công ty TNHHDV ECA khẳng định; Phúc Thọ Trà THT sản xuất kết hợp với Công ty chè lâu Peak,

– Liên kết giữa các doanh nghiệp và hợp tác xã: Để mua hàng hóa của nhân dân trên địa bàn tỉnh với số lượng lớn và chất lượng sản phẩm không đồng đều, các doanh nghiệp tích cực liên quan đến việc hợp tác xã ký hợp đồng cho các sản phẩm tiêu dùng. Để đúng cách và thực hiện đầy đủ các hợp đồng đã ký, thị trường tìm kiếm doanh nghiệp tiêu thụ có trách nhiệm, hỗ trợ đầu tư, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất; hợp tác xã đại diện chịu trách nhiệm ràng buộc một thành viên của các doanh nghiệp hợp tác xã thực hiện đúng các cam kết hợp đồng theo thỏa thuận được ký kết, điển hình, chẳng hạn như hợp tác xã Cherry, hợp tác xã Tân Tiến Hợp tác xã Xuân Hương Đà Lạt (kết hợp với các loại rau siêu thị tiêu thụ); Vàng châu Phi hợp tác xã (liên quan đến công ty tiêu thụ khoai tây PepsiCo); Hợp tác xã Tiến Huy (kết hợp với các loại rau tiêu thụ METRO siêu thị); … Bên cạnh đó, các hoạt động hợp tác của các nhà máy khu vực Di Linh công nghiệp,

– Xây dựng mô hình liên kết giữa các HTX THT: Đa số các HTX có mức tiêu thụ quy mô lớn của đầu ra là các tổ chức liên quan đến việc THT trên các vùng lân cận, chẳng hạn như các hợp tác xã nông nghiệp Cherry, Hợp tác xã Tiến Huy hợp tác xã Tân Tiến, … kết hợp với tổ hợp tác theo hình thức: hợp tác xã cung ứng vật tư, cây giống và kỹ thuật cho rau quả cung cấp THT THT và trái cây các loại cho hợp tác xã.

Hiện nay, các liên kết mô hình đang phát triển mạnh không chỉ trong sản xuất huyện rau, hoa, cây công nghiệp, mà còn phát triển ở các huyện của điều khiển từ xa, chẳng hạn như huyện Cát Tiên có hợp tác Trung Quốc Thạnh, hợp tác xã Tân Hưng Phát; mô hình Progress Quyết định Hợp tác xã huyện Đạ Tẻh; huyện Lâm Hà có hợp tác xã nông nghiệp Su Su Công Thành.

2. Mô hình hợp tác xã phi nông nghiệp:

– Trong những năm gần đây, mô hình hợp tác xã nghề đã phát triển góp phần giải quyết hàng trăm lao động cho người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, chẳng hạn như hợp tác xã thổ cẩm Cát Hợp tác xã An Bình Tiến, hợp tác xã Hữu Hoà, .. hợp tác xã tổ chức ký kết hợp đồng với các công ty, siêu thị và chuỗi cửa hàng bán đồ lưu niệm tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, .. Hiện nay, đã thành lập 01 thị trường mô hình hợp tác xã đến Đài Loan trên địa bàn huyện Đức Trọng với các thành viên của hộ gia đình thương nhân kinh doanh tại chợ, đây là mô hình hợp tác xã hội chợ đầu tiên của tỉnh và sẽ được nhân rộng trên địa bàn tỉnh trong những năm tới theo.

– Hiện nay, toàn tỉnh đã thành lập 02 khu vực mô hình hợp tác xã vận tải, chẳng hạn như hợp tác xã đã tổ chức các dịch vụ cho các thành viên như bãi mở, các tuyến đường đã đăng ký, thuế, … kế toán vừa tổ chức, quản lý tập trung (toàn bộ tài sản, vốn, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ sản xuất các hoạt động này là do quản lý hợp tác xã và chính quyền); Mô hình 2 là mô hình hợp tác xã dịch vụ hỗ trợ tổ chức, tức là hợp tác xã không trực tiếp quản lý điều hành phương tiện, máy móc và các hoạt động sản xuất trang thiết bị của doanh nghiệp, họ cung cấp một số loại dịch vụ hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã thành viên và cho những người không phải là thành viên.

VI. Sự tồn tại, hạn chế hoặc NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Sự tồn tại và hạn chế:

– Một số cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương không nhận thức đầy đủ các quan điểm và đường nét, chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước cũng như vai trò và vị thế của nền kinh tế tập thể của Đảng.

– Công tác quản lý, điều hành, hướng dẫn và hỗ trợ kinh tế tập thể của một số ngành, địa phương liên quan còn hạn chế; xác định các chủ trương, chính sách để phát triển kinh tế tập thể chưa được thống nhất, toàn diện; không kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh. vai trò tham mưu của Ban chỉ đạo ở mọi cấp độ phát triển kinh tế là không tốt.

– Việc thực hiện việc chuyển đổi các hoạt động hợp tác theo Luật Hợp tác xã còn chậm. Chất lượng và hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh phát triển rất chậm, chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, hợp tác xã đặc biệt nông nghiệp; số lượng sản xuất hợp tác và hiệu quả kinh doanh chưa cao, khả năng đóng góp vào ngân sách nhà nước còn hạn chế.

– Phần lớn các hợp tác xã, quy mô nhỏ THT, không có cao ốc văn phòng, các hoạt động sản xuất kinh doanh là đơn điệu, rời rạc, ít năng động, những khó khăn khắc phục chậm; không chủ động lên kế hoạch, phương hướng hoạt động hoặc mở rộng các mô hình kinh doanh theo hướng đa ngành nghề; không hình thành liên doanh, hợp tác xã trong khu vực có liên quan, hợp tác xã và các tổ chức kinh doanh. Hầu hết các, THT tốt chế độ kế toán chưa thực hiện hợp tác xã và báo cáo thông tin theo yêu cầu.

– Năng lực, cán bộ quản lý có trình độ trong lĩnh vực hợp tác xã còn nhiều hạn chế thi hành công vụ không đáp ứng điều kiện sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường hiện nay; chính sách đối với cán bộ hợp tác xã cũng có nhiều thiếu sót không nên thu hút nhiều cán bộ trẻ có năng lực, đủ điều kiện trực tiếp tham gia vào Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát quản trị Hợp tác xã.

2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:

– Tuyên truyền, hướng dẫn và chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế tập thể chung chưa được thực hiện thường xuyên.

– Ủy ban Level, các nhà chức trách của một số tỉnh thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo, hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển kinh tế tập thể, nơi can thiệp sâu vào hoạt động nội bộ của hợp tác xã. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước chưa chặt chẽ, cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả của các chính sách và cơ chế thực hiện cho các hợp tác xã chưa được chú trọng.

– Chính sách của Nhà nước để hỗ trợ các nhóm phát triển kinh tế đã được ban hành nhưng mức độ thực tế của hỗ trợ thấp hoặc không được thực hiện, một số quy định không thực sự phù hợp nên không thực sự tạo ra động lực để hỗ trợ nền kinh tế tập thể phát triển. Dòng điện địa phương chưa có quy hoạch sử dụng đất với đất thuê để hợp tác xã theo quy định.

– trình độ, năng lực quản lý, điều hành của các nhà quản lý hợp tác xã còn thiếu và yếu; Tỷ lệ cán bộ chưa qua đào tạo, bồi dưỡng nhiều, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, nhiệt tình. Sức mạnh của hợp tác xã không đủ mạnh để liên doanh, liên kết phát huy lợi thế sẵn có.

– Các phòng ban có liên quan, UBND huyện, thành phố đã bố trí cán bộ theo dõi lĩnh vực của nền kinh tế tập thể, nhưng chủ yếu là kiêm nhiệm nên được tư vấn trong việc quản lý nhà nước Hợp tác xã Limited, không kịp thời và chưa chặt chẽ, nắm bắt tình hình các hoạt động hợp tác, THT .

3. Một số bài học kinh nghiệm:

– Những nỗ lực để phát triển, phát huy nội lực, tự chủ, năng động trong sản xuất kinh doanh của từng đơn vị kinh tế tập thể là vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại trong kinh doanh và sản xuất. Thực tế là các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả sớm nhận ra mô hình hợp tác xã kiểu cũ không còn phù hợp, vì quyết tâm đổi mới tư duy, quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh, vượt qua thời điểm khó khăn khăn, đứng và tăng trưởng mạnh mẽ trong cơ chế mới.

– Sự quan tâm của cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương là một yếu tố quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tập thể thông qua sự lãnh đạo và chỉ đạo thường xuyên và thiết lập các chủ trương, chương trình, dự án, cơ chế, chính sách khuyến khích và hỗ trợ cho phù hợp.

– Vai trò tư vấn và hỗ trợ của Liên hiệp các Hợp tác xã là rất quan trọng, cần được quảng bá để giúp hợp tác xã giải quyết những vấn đề bản thân mỗi đơn vị duy nhất không thể giải quyết hoặc giải quyết không hiệu quả.

– Đội ngũ quản lý Hợp tác xã là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả của các tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp có kế hoạch chỉ đạo trước mắt và lâu dài vừa phải, cả hai tính khả thi và hiệu quả phụ thuộc nhiều vào trình độ và năng lực của đội ngũ quản lý của hợp tác xã.

– Chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh phải là một ưu tiên hàng đầu, và giải quyết hài hòa, thỏa đáng lợi ích mối quan hệ thành viên và lợi ích hợp tác xã, xây dựng lòng tin, tự nguyện cam kết lâu dài của từng xã viên vào hợp tác xã.

– Việc xem xét sơ bộ và đánh giá bài học kinh nghiệm về các mô hình tiên tiến mà cần phải được tập trung, để rút ra những vấn đề cơ bản, tính chất phổ biến để có định hướng về cơ chế, chính sách phù hợp để hỗ trợ sự phát triển của nền kinh tế tập thể trong từng thời kỳ.

phần III

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỢP TÁC ĐẾN NĂM 2020

I. QUAN ĐIỂM

– hợp tác phát triển kinh tế là một sự cần thiết khách quan, là chủ trương lớn, trong suốt của Đảng và Nhà nước, do đó đòi hỏi phải có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và sự tham gia đồng thuận của nhân dân, để tránh sự áp đặt, một lý tưởng và không mất của Đảng lãnh đạo và quản lý ở tất cả các cấp chính quyền. Tiếp tục phát huy vai trò của Hợp tác xã Alliance, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong vận động hành lang và khối lượng công tác tuyên truyền tham gia vào hợp tác phát triển kinh tế và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở.

– Cần tập trung và phát triển hợp tác xã đặt mục tiêu số lượng với chất lượng công việc, không vội vàng, hạn chế và phải theo quan điểm của Nhà nước để tạo ra một môi trường, lợi thế kinh tế thể chế và hỗ trợ cho phong trào các hình thức hợp tác kinh tế bản thân và phát triển dưới hình thức thích hợp. Cần phải chọn các mô hình kinh tế hợp tác phù hợp với điều kiện thực tế của lao động, đất đai và khí hậu địa phương; để xác định nội dung, các bước cụ thể gắn với các mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Việc lựa chọn kích thước và mô hình kinh tế hợp tác phải dựa trên sự tôn trọng quyết định của các thành viên tham gia vào việc tổ chức hợp tác kinh tế, Nhà nước không áp đặt.

– Tiếp tục phát triển hợp tác kinh tế trong mọi lĩnh vực, trọng tâm là trong lĩnh vực nông nghiệp và khu vực nông thôn trên cơ sở đảm bảo quyền tự chủ của kinh tế hộ, trang trại, hỗ trợ đắc lực cho các hộ kinh tế, trang trại phát triển gắn với chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn để đáp ứng các yêu cầu trong việc thực hiện chương trình mục tiêu Quốc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.

– Tập trung tổ chức lại hoạt động của các hợp tác xã và THT theo quy trình, Luật Hợp tác xã năm 2012. Đối với các hợp tác xã được tổ chức lại, cần rà soát lại ngành nghề kinh doanh của họ, điều chỉnh và phù hợp với công việc ngành công nghiệp bổ sung khả năng và nhu cầu thị trường hợp tác xã. Hạn chế tối đa các hợp tác xã hoạt động hoặc hoạt động không đúng kéo dài. Đối với các hợp tác xã chưa tổ chức lại dưới Hợp tác xã Luật vào năm 2012, nên có kế hoạch tổ chức giải quyết dứt điểm, đối với các hợp tác xã không được tổ chức lại hoặc ngừng làm việc, giải quyết theo quy định của pháp luật.

– Nghiên cứu, xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích chuyển đổi hoặc thành lập các hợp tác xã mới, liên hiệp hợp tác trong các lĩnh vực môi trường, thị trường, dịch vụ, … Khuyến khích thiết bị tiên tiến hợp tác xã, công nghệ sản xuất, mở rộng nội dung, hình thức đa dạng của hoạt động, thúc đẩy liên doanh, liên kết giữa sự phát triển của sản xuất gắn với thị trường, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh, tham gia chuỗi giá trị và thương hiệu nông sản, duy trì thị trường trong nước và hội nhập quốc tế.

– Quan tâm đào tạo thích hợp, bồi dưỡng nâng cao đội ngũ nhân viên hợp tác xã. Xây dựng và thực hiện chính sách hỗ trợ kịp thời và hiệu quả cho các đơn vị kinh tế hợp tác phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo bền vững; nâng cao vai trò và vị trí của hợp tác kinh tế trong nền kinh tế, góp phần giữ gìn an ninh chính trị và phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh.

III. MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TỪNG NGÀNH VÀ LĨNH VỰC

1. Mục tiêu tổng thể

– Quán triệt và thực hiện quan điểm tốt và chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước về sự phát triển của hợp tác kinh tế. thực hiện tập trung các giải pháp nhằm hỗ trợ việc tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ cho tổ chức, quản lý, hiệu quả hoạt động, và tăng cường khả năng cạnh tranh của các hợp tác xã phù hợp với từng ngành, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với chương trình xây dựng khu vực và các chương trình kinh tế nông thôn mới phát triển – xã hội địa phương. Phấn đấu đến năm 2020, lĩnh vực hợp tác kinh tế để đạt được sự tăng trưởng và vị trí cao, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội trên phạm vi toàn tỉnh.

– Xây dựng sự phát triển của hợp tác xã ở các huyện, thành phố. Tập trung vào việc phát triển một loại mới của các mô hình hợp tác và phát triển các loại mới của hợp tác xã trong các lĩnh vực như môi trường, quản lý thị trường, dịch vụ, … Phấn đấu đến năm 2020, không có xã hội “trắng” của hợp tác xã.

2. Mục tiêu cụ thể

– Tập trung vào củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của LHHTX, hợp tác xã, THT. Phấn đấu đến năm 2020, tổng giá trị của lĩnh vực sản xuất chiếm hợp tác 1,5-2% của GRDP tỉnh; Hợp tác xã tồn tại không còn là hình thức, tăng tỷ lệ của Hợp tác xã khá, cao hơn 70%. Phấn đấu để xây dựng từng ngành nghề kinh doanh với ít nhất một mô hình hợp tác xã điển hình tiên tiến.

– Trung bình thành lập mới hàng năm ít nhất 25 hợp tác xã và 30 THT có xác nhận của UBND xã. Khuyến khích việc thành lập LHHTX mới có hiệu lực, quy mô hợp tác xã liên xã hoặc liên huyện, hợp tác xã trong việc xử lý và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cho nông dân và thu thập, vận chuyển chất thải nông nghiệp, … phấn đấu đến năm 2020, toàn tỉnh có 250 hợp tác xã và 330 THT chứng nhận do UBND xã.

– Đến năm 2020, phấn đấu cho sự tăng trưởng vốn điều lệ, doanh thu, tăng từ 8-10% của hợp tác xã / năm. Thu nhập bình quân của người lao động trong hợp tác xã thường tăng 1,5 lần so với năm 2015.

– Phấn đấu đến năm 2020, tăng vốn điều lệ của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã trên địa bàn tỉnh lên 15 tỷ đồng, hỗ trợ thiết thực tích cực cho hợp tác xã, THT vay từ quỹ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và sản xuất kinh doanh rộng mở.

– Đến năm 2020, số lượng xã viên, người lao động tham gia vào THT, tăng hợp tác hàng năm là 10% trở lên; 100% cán bộ chủ chốt hợp tác xã được bồi dưỡng bổ sung kiến ​​thức về hợp tác xã và pháp luật có liên quan; 50% có tác đội ngũ nhân viên được đào tạo chính từ mức độ mới bắt đầu, trung cấp; 20% cán bộ chủ chốt Hợp tác xã có trình độ cao đẳng, đại học trở lên.

3. Định hướng hợp tác phát triển kinh tế trong từng ngành, lĩnh vực và địa phương

a) Đối với nông nghiệp và phát triển nông thôn:

– Tiếp tục củng cố, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã hiện có và THT. Tập trung vào việc phát triển hợp tác xã, nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp THT cường độ cao, cung cấp các sản phẩm đầu vào và các dịch vụ, sản lượng tiêu thụ sản phẩm của các thành viên, hộ gia đình; nghiên cứu xây dựng và phát triển mô hình HTX kiểu mới, góp phần đổi mới quan hệ sản xuất, tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển bền vững nông nghiệp gắn liền với việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu của ngành nông nghiệp trong giai đoạn tỉnh Lâm Đồng 2016-2020 để tổ chức thí điểm và nhân rộng. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các hiệp hội các nhà sản xuất, làm việc với nhau để tạo thành các hợp tác xã để nâng cao năng lực sản xuất, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh,

– Phấn đấu đến năm 2020, các xã và các tiêu chuẩn huyện với mô hình kinh tế hợp tác xã nông thôn mới làm việc một cách hiệu quả.

– Trung bình thành lập mới hàng năm có ít nhất 15 hợp tác xã và 30 THT; trong đó xây dựng ít nhất là 8 kiểu mới mô hình hợp tác xã và 4 sản xuất liên kết THT điển hình và tiêu thụ sản phẩm.

b) Đối với ngành công nghiệp và thương mại (thủ công và thương mại):

– Tập trung vào việc duy trì, củng cố và phát triển của hợp tác xã là để tạo điều kiện cho các tổ chức để từng bước mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, tăng cường đổi mới và thiết bị công nghệ cho phù hợp với sự phát triển của khoa học và công nghệ, áp dụng công nghệ mới trong sản xuất công nghiệp tăng hiệu quả kinh doanh và lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

– Phát triển các hợp tác xã mới thành lập nếu có thể nguồn nhân lực mạnh mẽ và vật liệu tại chỗ, lưu ý các lĩnh vực chế biến nông, lâm, thủy sản, công nghiệp và xuất khẩu hàng tiêu dùng; Được thành lập vào nghiên cứu và phát triển mô hình quản lý hợp tác xã của các thị trường nông thôn, xây dựng mỗi với 01 hợp tác xã làng truyền thống, … phấn đấu mỗi năm, thành lập mới ít nhất 02 hợp tác xã.

c) Đối với ngành xây dựng:

– Khuyến khích việc thành lập các mô hình hợp tác xã, các hoạt động THT trong các lĩnh vực sản xuất và cung ứng vật liệu xây dựng; cung cấp và cho thuê máy móc; công cụ và thiết bị phục vụ công trình xây dựng; khảo sát thực tế tư vấn, thiết kế và xây dựng; quản lý, vận hành cung cấp dịch vụ trong các tòa nhà chung cư, khu dân cư, cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình công cộng, thu gom rác thải.

– Tích cực hỗ trợ khu vực kinh tế tập thể trong ngành xây dựng để có thể truy cập, và tận hưởng các chính sách ưu đãi đầu tư, chẳng hạn như các khoản vay, đất; hỗ trợ các đơn vị hợp tác kinh tế hoạt động trong các ngành công nghiệp truyền thống như sản xuất gạch để khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nước và nguyên liệu sử dụng lao động địa phương đã góp phần thu nhập tăng thêm cho nông dân.

– Phấn đấu đến năm 2020, thành lập mới ít nhất 10 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực xây dựng.

d) Đối với ngành giao thông:

– Tiếp tục củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã vận tải; ngân hàng kết nối để cung cấp hỗ trợ vốn để thực hiện hợp tác của các cơ sở cho vay mới để đáp ứng thay đổi tiêu chuẩn công nghiệp, ưu tiên phát triển xe mới sử dụng nhiên liệu sạch, thân thiện với môi trường; phát triển các hoạt động như dịch vụ hợp tác sửa chữa xe, cứu hộ và cung cấp vật tư, xăng dầu, bến bãi kho.

– Phát triển mô hình hợp tác xã nhiều loại mới của giao thông như mô hình quản lý hợp tác xã, kế toán tập trung; dịch vụ hỗ trợ mô hình hợp tác xã; mô hình dịch vụ thời gian gần đây đã tập trung quản lý kế toán; mô hình hợp tác xã cơ khí (sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải); dịch vụ mô hình hợp tác xã bãi, …; tăng cường công tác đào tạo, tuyên truyền pháp luật cho người lái xe, tiếp viên đặc biệt là các hợp tác xã vận tải hành khách cố định các tuyến đường trong nước.

– Phấn đấu thành lập ít nhất 02 hợp tác xã vận tải và mỗi huyện, thành phố có ít nhất 01 hợp tác xã vận tải.

e) Đối với Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND):

– Tiếp tục ổn định khu vực hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân đang hoạt động có hiệu quả, tăng cường hoạt động của các quỹ tín dụng, người dân dưới các hoạt động hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước, để đảm bảo hoạt động an toàn, phát triển hiệu quả và bền vững. Phấn đấu đến năm 2020, các PCF 100% hoạt động kinh doanh có lãi; Trong số đó, 90% hoặc đánh giá hơn khá, giỏi; không PCF thu hồi giấy phép kinh doanh; vay tăng từ 10-12% / năm.

– Thành lập QTDND mới, nơi có nhu cầu để đáp ứng các điều kiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; mối quan tâm ưu tiên cho lĩnh vực nông nghiệp và khu vực nông thôn và các vùng, khu vực mà không có sự PCF. Phấn đấu thành lập mới ít nhất 01 PCF.

e) Đối với lĩnh vực dịch vụ, du lịch:

– Xây dựng, thiết lập mô hình mới của hoạt động hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ, du lịch, chẳng hạn như nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng, …

– Phấn đấu trong vòng ít nhất 01 hợp tác xã mới thành lập.

g) Đối với lĩnh vực tài nguyên và môi trường, y tế, giáo dục ….

– Nghiên cứu cung cấp mô hình hợp tác xã mới thành lập dịch vụ phục vụ các thành viên và nông dân ở các vùng nông thôn như việc thu thập và xử lý chất thải; dịch vụ công cộng về vệ sinh, cấp nước, dịch vụ tang lễ, …

– Vận động, thành lập một mô hình mới của mô hình nhà ở hợp tác giáo dục mầm non tư nhân, chung cư, hợp tác xã y tế hợp tác xã cung cấp dược liệu, dược phẩm, … Phấn đấu thành lập mới ít nhất 03 hợp tác xã cho các lĩnh vực nêu trên.

h) Đối với các huyện:

– Đối với các huyện nông thôn đã đạt tiêu chuẩn mới để tăng cường hợp tác xã hoặc xây dựng kiểu mới của mô hình hợp tác công trình một cách hiệu quả.

– Phấn đấu hàng năm ở mỗi huyện, thành phố phát triển mới ít nhất 1-4 hợp tác xã tùy từng điều kiện địa lý và xây dựng ít nhất một mô hình hợp tác xã điển hình cho một lĩnh vực để tái tạo. 100% các tiêu chuẩn xã hội nông thôn mới ít nhất 01 mô hình của các hoạt động hợp tác kinh tế có hiệu quả và phấn đấu đến năm 2020, 100% số xã, phường, thị trấn với hợp tác xã.

IV. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỢP TÁC ĐẾN NĂM 2020

1. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền

– Tiếp tục được sự quan tâm kỹ lưỡng và thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX), Luật Hợp tác xã và các chủ trương, chính sách về hợp tác và phát triển của hợp tác xã phát triển kinh tế. Qua đó, nâng cao nhận thức cho tất cả các cấp, các ngành, tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân về vị trí, vai trò và sự cần thiết khách quan của sự phát triển của hợp tác kinh tế và phát triển của hợp tác xã. Liên minh HTX Nội vụ tỉnh, phối hợp với các phòng ban có liên quan trong việc tạo ra các chương trình bồi dưỡng kiến ​​thức về hợp tác kinh tế cho lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở.

– Các phòng ban và các cơ quan, chính quyền địa phương các cấp, trước hết là người đứng đầu phải xác định rõ trách nhiệm của mình trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng; chính sách và pháp luật của Nhà nước trong hợp tác và hợp tác xã phát triển kinh tế; để thực sự coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và là một trong những nhiệm vụ quan trọng của sự phát triển kinh tế – xã hội của từng ngành, từng địa phương.

– Liên minh HTX phối hợp với các bộ phận và các đoàn thể tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan, bộ phận thực hiện công tác tuyên truyền, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương và Tỉnh ủy về phát triển kinh tế Tập đoàn; Luật Hợp tác xã, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hợp tác xã và các văn bản chính sách về hợp tác phát triển kinh tế. Cùng lúc đó, các giải pháp tư vấn để tháo gỡ khó khăn, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác kinh tế khu vực, hợp tác xã chủ động vươn lên, khắc phục những hạn chế, yếu kém, củng cố tổ chức, nâng cao năng lực quản lý, điều hành và hiệu quả hoạt động, phát huy những lợi thế vốn có của mỗi hợp tác để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

– Hợp tác xã tỉnh Liên minh thường phối hợp với các phương tiện truyền thông để tuyên truyền thông qua các báo cáo, diễn đàn để nâng cao nhận thức cho các thành viên và nhân dân hiểu được bản chất của hợp tác kinh tế và hợp tác xã.

2. Tăng cường công tác quản lý nhà nước và phối hợp vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp trong đổi mới, hợp tác phát triển kinh tế

– Ban chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể ở các cấp tiếp tục phát huy vai trò, tổ chức và hoạt động chiều sâu, hiệu quả và thiết thực; tích cực tham mưu cấp ủy, chính quyền, các tổ chức thực hiện việc củng cố và phát triển hợp tác kinh tế.

– Tiếp tục củng cố bộ máy quản lý nhà nước của hợp tác kinh tế và thực hiện phân phối và phân cấp, xác định trách nhiệm cụ thể và xây dựng quy chế phối hợp giữa các ban ngành, địa phương trong việc quản lý nhà nước kiểm soát của hợp tác kinh tế; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý về tình trạng kinh tế hợp tác theo hướng sắp xếp, bố trí theo dịch vụ đào tạo chuyên nghiệp; lựa chọn, nhân viên bố trí có kinh nghiệm và dành riêng cho hợp tác kinh tế để quản lý, hướng dẫn và tư vấn cho loại bỏ những khó khăn cho các hợp tác xã trong quá trình tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh.

– Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cấp tỉnh phối hợp chặt chẽ với các tỉnh Liên minh HTX trong việc tuyên truyền và nâng cao nhận thức cho các cán bộ của hệ thống Mặt trận và các đoàn thể các Nghị quyết của Đảng và sự hợp tác và hợp tác xã phát triển kinh tế pháp luật của Nhà nước.

– Tiếp tục củng cố và tăng cường vai trò của Co-operative Alliance, phát huy vai trò của họ như là một tâm điểm và là cầu nối giữa hợp tác kinh tế với cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp; tăng cường sự phối hợp của ngành, địa phương tham mưu xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch và các dự án hợp tác phát triển kinh tế; tăng cường và phát triển đổi mới của hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012, thay đổi mô hình tổ chức, giải thể hợp tác xã yếu kém kéo dài, biểu mẫu, Luật Hợp tác xã hoạt động không đúng vào năm 2012; phối hợp chặt chẽ với các chi nhánh địa phương và kiểm tra, đôn đốc kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác kinh tế và phát triển.

– Tất cả các cấp, các ngành, địa phương xây dựng chương trình hàng năm và kế hoạch phát triển kinh tế hợp tác gắn với phát triển kinh tế – xã hội của từng cấp, và ngành công nghiệp địa phương. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong việc đăng ký hợp tác xã thành lập, LHHTX, THT và thủ tục đầu tư, hoạt động chứng nhận đủ điều kiện cho các tổ chức kinh tế hợp tác xã.

3. Tổ chức thực hiện Luật Hợp tác xã có hiệu lực vào năm 2012 và cơ chế, chính sách hoàn chỉnh để hỗ trợ sự phát triển của hợp tác kinh tế

– Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Luật Hợp tác xã năm 2012 và văn bản hướng dẫn; tổ chức thực hiện đầy đủ và hỗ trợ một cách hiệu quả giai đoạn phát triển chính sách 2015-2020 Hợp tác xã đã được phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 2261 / QĐ-TTg ngày 15/12/2014 và Quyết định số 14/2015 / QĐ-UBND ngày 25/02 / 2015 của UBND tỉnh quy định đã ban hành chính sách hỗ trợ phát triển các hợp tác xã trên địa bàn tỉnh từ năm 2015 đến 2020, tạo điều kiện cho các sáng kiến ​​hợp tác gia tăng, nhanh chóng khắc những hạn chế, yếu kém, tăng cường tổ chức, quản lý công suất và điều hành hoạt động một cách hiệu quả.

– Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý và hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển HTX tỉnh; mở rộng quy mô vốn cho vay; tạo điều kiện cho hợp tác xã, THT tiếp cận với vốn vay ưu đãi, mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động.

– Các phòng ban và địa phương tiếp tục rà soát các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã đã được ban hành nhưng không còn phù hợp để tham mưu đề xuất điều chỉnh, bổ sung, bãi bỏ hoặc thay thế phù hợp với đặc điểm và điều kiện của tỉnh để khuyến khích và hỗ trợ phát triển các hợp tác xã trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là các chính sách về đất đai, vốn, hỗ trợ công tác đào tạo nguồn nhân lực, công nghệ, thị trường, truyền thông, … tiếp tục hỗ trợ nâng cao hiệu quả của xúc tiến thương mại, xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các hợp tác xã; hỗ trợ một số xúc tiến thương mại hợp tác xã tham gia có điều kiện để thị trường khu vực và thế giới.

4. switch Focus và hợp tác phát triển kinh tế theo hướng đa dạng hóa các loại hình trung bình, vóc dáng trung bình và nhân rộng các mô hình, điển hình của hợp tác kinh tế và hợp tác xã

– Tăng cường hợp tác xã hướng dẫn, THT lên kế hoạch đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả sản xuất và đa ngành, đa lĩnh vực theo định hướng kinh doanh. Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã để tăng cường các hoạt động “liên doanh”, “liên kết” giữa các hợp tác xã và các tổ chức kinh tế và những người khác chỉ cần mở rộng phạm vi và quy mô sản xuất kinh doanh, mở cửa thị trường và đảm bảo phát triển bền vững.

– Xây dựng và phát triển mô hình liên kết gắn sản xuất với chế biến và tiếp thị, các liên kết mô hình giữa các doanh nghiệp và THT, hợp tác xã; tập trung vào các sản phẩm mũi nhọn của tỉnh. cải cách dần dần toàn diện về nội dung và hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất và phát triển các hình thức tổ chức hợp tác của nông dân, phù hợp với từng vùng, từng lĩnh vực gắn liền với phong trào xây dựng nông thôn mới.

– Thường xuyên lựa chọn các mô hình hợp tác xã điển hình và mô hình tiên tiến của hoạt động hợp tác để giới thiệu học tập hiệu quả, phổ biến và tổ chức, áp dụng, nhân rộng trên địa bàn tỉnh.

V. THỰC HIỆN NGÂN SÁCH

1. Dự toán kinh phí thực hiện Đề án trong giai đoạn 2017-2020 là 36 084.000.000 (Ba mươi sáu tỷ, 480,000,000) theo Phụ lục số ước tính chi tiêu với thực hiện dự án, bao gồm:

a) Kinh phí từ sự ủng hộ miền Trung: 9388000000.

b) Học phí từ ngân sách địa phương để hỗ trợ 14 854.000.000.

c) Nguồn vốn đối ứng của các hợp tác xã: 10 124 triệu.

d) Dự phòng (5%): 1.718 triệu.

e) Ngoài các nguồn nêu trên, kinh phí để thực hiện chương trình này sẽ được tích hợp, kết hợp từ các chỉ tiêu và các chương trình phát triển kinh tế quốc gia Chương trình – xã hội trên địa bàn tỉnh hoặc tranh thủ các nhà tài trợ, hỗ trợ tài chính và cơ sở hạ tầng của tổ chức, cá nhân tại nhà trong và ngoài nước theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các quy định khác có liên quan.

2. Kinh phí thực hiện Đề án được bảo đảm từ ngân sách nhà nước hoặc để tích hợp và huy động các nguồn vốn khác theo quy định. Hàng năm, căn cứ vào nhu cầu cụ thể của các phòng ban, địa phương và khả năng cân đối ngân sách địa phương, Sở Tài chính, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Liên minh tỉnh Hợp tác xã dự toán tổng hợp cho việc thực hiện các báo cáo dự án về Bộ Tài chính (đối với quỹ bảo lãnh ngân sách trung ương) và UBND tỉnh (đối với kinh phí ngân sách địa phương đảm bảo) xem xét tính phí phân bổ cho Liên minh hợp tác xã tỉnh theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

phần IV

THỰC HIỆN

1. Sở Kế hoạch và Đầu tư

– Là một cơ quan UBND tỉnh để giúp công tác quản lý nhà nước của hợp tác kinh tế tại địa phương. Chủ trì, phối hợp với các bộ phận khác, các cơ quan có liên quan và các địa phương để cụ thể hóa các chương trình kế hoạch nội dung, thực hiện hàng năm có kế hoạch chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện; thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá, kết quả tổng hợp để thực hiện các chương trình trên địa bàn tỉnh hàng năm và định kỳ báo cáo UBND tỉnh.

– Chì, phối hợp với Sở Tài chính và các phòng ban có liên quan tổng hợp kế hoạch phát triển kinh tế hợp tác trên địa bàn tỉnh hàng năm báo cáo việc rà soát UBND tỉnh, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính chính và các Bộ, cơ quan theo quy định ; cân đối và phân bổ vốn đầu tư hoặc tích hợp tài trợ hợp tác xã, Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.

– Chì và phối hợp với các phòng ban liên quan để xem xét và tham mưu cho UBND tỉnh, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách hỗ trợ và khuyến khích phát triển hợp tác xã theo quy định.

2. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

– Chỉ đạo các chương trình thực hiện kế hoạch hợp tác phát triển kinh tế trong các lĩnh vực phụ trách gắn liền với chương trình xây dựng nông thôn mới.

– Chì, phối hợp UBND các huyện, thành phố và các đơn vị khác có liên quan để củng cố hợp tác xã, THT là để đảm bảo các quy định hoạt động, vận động thành lập mới hợp tác xã, THT bởi ngành công nghiệp để đảm bảo các nội dung Đề án; tiếp tục hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã, khu vực THT, chịu trách nhiệm về lĩnh vực phát triển.

– Chủ trì, phối hợp với các cơ quan khác liên quan đến việc củng cố toàn bộ cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước của hợp tác kinh tế, đảm bảo nhân viên đủ mạnh để tham mưu, đề xuất các hình thức kinh tế phát triển hợp tác trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

– Nghiên cứu, phát triển và quản lý việc thực hiện các dự án hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp trong khuôn khổ Đề án theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012, Nghị định số 193/2013 / NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ và các quy định có liên quan.

– Xây dựng mô hình hợp tác xã, các mô hình THT tiên tiến, mô hình liên kết chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa nông nghiệp để giới thiệu, phổ biến và nhân rộng. Tổ chức đào tạo các sản phẩm sạch nông nghiệp và kiến ​​thức về hội nhập quốc tế, các giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp.

– Tham mưu và xây dựng cơ chế, chính sách để thúc đẩy sự phát triển của các hình thức tổ chức của hợp tác kinh tế, liên kết sản xuất nông nghiệp, báo cáo xem xét UBND tỉnh quyết định.

– Theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các dự án thuộc lĩnh vực phụ trách; hàng năm báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch trên Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh.

3. Sở Tài chính:

– Căn cứ vào dự toán chi phí cho việc thực hiện Đề án; chủ trì, phối hợp với các Sở tỉnh và các sở đầu tư và Liên minh HTX Kế hoạch và tổng hợp tài trợ liên quan cho chương trình thực hiện hợp tác phát triển kinh tế để ước tính ngân sách hàng năm (đối với số lượng chịu trách nhiệm về nhiệm vụ chi ngân sách trung ương) Bộ báo cáo UBND tỉnh Tài chính và các Bộ và các cơ quan khác theo quy định; tham mưu, đề xuất UBND tỉnh xem xét, báo cáo Hội đồng cấp tỉnh cân đối ngân sách địa phương hàng năm (đối với kinh phí của nhiệm vụ chi ngân sách địa phương) để thực hiện hỗ trợ phát triển hợp tác xã; hướng dẫn cụ thể về cơ chế, quản lý, sử dụng tài chính và quyết toán kinh phí hỗ trợ sự phát triển của hợp tác xã theo quy định.

– Chì, phối hợp với các tỉnh nghiên cứu Liên minh HTX, đề xuất để tăng mức độ các nguồn lực của Quỹ hỗ trợ phát triển HTX tỉnh phù hợp với nhu cầu vay vốn của các hợp tác xã và khả năng cân đối ngân sách địa phương, đảm bảo đến năm 2020: vốn điều lệ tối tối thiểu 15 tỷ đồng.

4. Sở Tài nguyên và Môi trường

– Chủ trì, phối hợp với các, thành phố hướng dẫn UBND huyện và giải quyết các hợp đồng thuê đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hợp tác xã và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các hợp tác xã trong lĩnh vực đất đai, môi trường;

– Chủ trì, phối hợp với kế hoạch phát triển xây dựng các hợp tác xã dịch vụ môi trường Liên minh Hợp tác xã tỉnh; Nghiên cứu ban hành cơ chế đề xuất, chính sách hỗ trợ, khuyến khích sự sáng tạo của các hợp tác xã dịch vụ môi trường, báo cáo UBND tỉnh.

5. Sở Khoa học và Công nghệ: Thực hiện hỗ trợ THT, hợp tác xã hoạt động trong việc áp dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm; hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm THT, hợp tác xã.

6. Sở Thương mại

– Chì, phối hợp UBND các huyện, thành phố và các đơn vị khác có liên quan để củng cố hợp tác xã, THT là để đảm bảo các quy định hoạt động, vận động thành lập mới hợp tác xã, THT bởi ngành công nghiệp để đảm bảo các nội dung Đề án; tiếp tục hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã, khu vực THT, chịu trách nhiệm về lĩnh vực phát triển.

– Chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan, đơn vị liên quan nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ và khuyến khích sự phát triển của quản lý hợp tác xã của các thị trường và hiệp hội hợp tác với các làng nghề nông thôn tại địa phương; thực hiện chương trình gặp gỡ và liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh với các hợp tác xã, THT để tiêu thụ sản phẩm hợp đồng.

– Xây dựng kế hoạch và thực hiện chương trình khuyến công, các chương trình xúc tiến thương mại hàng năm cho các hợp tác xã; tư vấn, hỗ trợ và hướng dẫn tham gia hợp tác trong hội chợ triển lãm để tìm kiếm thị trường và thực hiện các chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, giới thiệu và quảng bá sản phẩm, …

7. DOHA: ghế và phối hợp với các ban, ngành và các địa phương khác để xem xét tham mưu, đề xuất Ban chỉ đạo củng cố để phát triển nền kinh tế tập thể của tỉnh Lâm Đồng; cơ cấu tổ chức, nhân viên và người lao động làm việc trong các cơ quan tỉnh Liên minh HTX và bộ máy quản lý nhà nước của hợp tác kinh tế từ cấp tỉnh đến cấp huyện theo quy định của pháp luật, bố trí ưu tiên cán bộ chuyên trách đủ để tăng cường nguồn nhân lực cho bộ máy quản lý nhà nước của nền kinh tế hợp tác xã trong tỉnh.

8. Sở Thông tin và Truyền thông

– Hướng dẫn và hỗ trợ việc xây dựng trang web hợp tác để quảng bá hình ảnh của đơn vị, giới thiệu sản phẩm; Đào tạo, huấn luyện, đào tạo về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh cho hợp tác xã.

– Chỉ đạo các cơ quan thông tấn, xây dựng đài phát thanh và bảo trì thường xuyên, chuyên mục định kỳ về kinh tế tập thể nhằm tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và nhân dân trong việc thực hiện tất cả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hợp tác phát triển kinh tế . Kịp thời khen ngợi, hợp tác xã tái tạo tiên tiến mẫu mã, kiểu mới mô hình hợp tác xã hoạt động hiệu quả.

chi nhánh 9. Ngân hàng Nhà nước ở Lâm Đồng

– Tổ chức tín dụng trực tiếp thực hiện nghiêm túc các quy định của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã tiếp cận các nguồn vốn cho doanh nghiệp sản xuất và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế trên địa bàn hợp tác.

– Hướng dẫn việc thành lập QTDND mới, nơi có nhu cầu để đáp ứng các điều kiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; mối quan tâm ưu tiên cho lĩnh vực nông nghiệp và khu vực nông thôn và các vùng, khu vực mà không có sự PCF. Thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của các hoạt động PCF để đảm bảo sự phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững.

10. Vụ đã quản lý hợp tác xã và THT chuyên ngành khác:

– Chỉ đạo việc lập kế hoạch, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thuộc các lĩnh vực trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá, kết quả tổng hợp của việc thực hiện Đề án; Báo cáo tổng hợp định kỳ tình hình thực hiện kết quả của chương trình nộp cho Kế hoạch và Đầu tư, Liên minh Hợp tác xã tỉnh các để tổng hợp và báo cáo UBND tỉnh.

– Chì, phối hợp UBND các huyện, thành phố và các đơn vị khác có liên quan để củng cố hợp tác xã, THT là để đảm bảo các quy định hoạt động, vận động thành lập mới hợp tác xã, THT bởi ngành công nghiệp để đảm bảo các nội dung Đề án; tiếp tục hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã, khu vực THT, chịu trách nhiệm về lĩnh vực phát triển.

II. Tỉnh ủy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chính trị khối lượng – xã hội:

– Tăng cường công tác tuyên truyền đối với vùng sâu công đoàn thành viên, các thành viên và tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các hình thức hợp tác kinh tế, hợp tác xã; hỗ trợ cho các đơn vị kinh tế tập thể của đoàn viên và thành viên của các tổ chức tự nguyện.

– Tích cực tham gia vào việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách, biện pháp phát triển hợp tác kinh tế trên địa bàn tỉnh. Phối hợp và xây dựng trực tiếp mô hình hợp tác trong các tổ chức đoàn thể, công đoàn phải phấn đấu mỗi THT modeler, hợp tác xã.

Đồng báo 12. Lâm và Truyền thanh – Truyền hình tỉnh trì, phối hợp với Liên minh Hợp tác xã tỉnh và các sở, sản xuất địa phương có liên quan của các trang chuyên dụng, đảm bảo chất lượng sản phẩm để chủ trương công tác tuyên truyền, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước về hợp tác phát triển kinh tế . Thường thường, mô hình hợp tác giới thiệu các mô hình tiên tiến, ngoài tỉnh để nghiên cứu, nhân rộng ở các địa phương.

13. Liên minh Hợp tác xã tỉnh

– Cơ quan thường trực, chủ trì và phối hợp với các phòng ban, các tổ chức địa phương để thực hiện Đề án; giám sát và báo cáo với Sở Kế hoạch và Đầu tư về tình hình và kết quả hàng năm và định kỳ theo quy định.

– Phối hợp với các ban, ngành và các địa phương khác tổ chức tuyên truyền sâu rộng về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hợp tác phát triển kinh tế và các nội dung của Đề án; giới thiệu kịp thời khen thưởng, hợp tác xã tái tạo tiên tiến mẫu mã, kiểu mới mô hình hợp tác xã hoạt động hiệu quả.

– Chủ trì, phối hợp với các bộ phận khác, các tổ chức địa phương và thực hiện các khóa đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, hội viên và nhân viên của hợp tác xã của mình; đào tạo nguồn nhân lực phục vụ lâu dài hợp tác; Thành lập mới tư vấn và kế hoạch sản xuất kinh doanh tư vấn xây dựng có hiệu quả đối với các hợp tác xã.

– củng cố thường xuyên của các cơ quan vận hành máy toàn bộ đáp ứng Liên minh Hợp tác xã tỉnh yêu cầu nhiệm vụ được giao.

– Hợp tác xã Hướng dẫn trong việc xem xét các điều lệ, các thành viên Đại hội để tăng cường hoạt động hợp tác, đảm bảo phù hợp với quy định của Luật Hợp tác xã và các văn bản hướng dẫn. Đẩy mạnh hợp tác Quỹ Hỗ trợ phát triển, tạo điều kiện cho hợp tác xã với các khoản vay với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ thực hiện kịp thời các dự án phát triển kinh doanh. Định kỳ hàng năm, kiểm tra kế hoạch và giám sát tạo điều kiện cho hợp tác kinh tế và phát triển đúng hướng, mạnh mẽ, phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh.

– Tổ chức các hoạt động học tập và nghiên cứu của mô hình hợp tác có hiệu quả của các tỉnh, thành phố trên khắp đất nước để học hỏi kinh nghiệm và áp dụng cho tỉnh Lâm Đồng.

14. Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố

– Chỉ đạo việc lập kế hoạch, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chương trình tại địa phương; kiểm tra thường xuyên, theo dõi, đánh giá, kết quả tổng hợp tình hình thực hiện Đề án; Báo cáo tổng hợp định kỳ tình hình thực hiện kết quả của chương trình nộp cho Kế hoạch và Đầu tư, Liên minh Hợp tác xã tỉnh các để tổng hợp và báo cáo UBND tỉnh.

– Phối hợp với các phòng ban có chuyên môn hợp tác xã, liên minh hợp tác xã tập trung vào việc củng cố địa bàn tỉnh, hỗ trợ sự phát triển và thành lập hợp tác xã mới trong chương trình nội địa hoá. Đồng thời, chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển một loại mới của hợp tác với chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.

– Thường xuyên chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan và Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn tiếp tục tổ chức tuyên truyền và vận động, nâng cao nhận thức cho người dân về các chủ trương, chính sách và pháp luật đối với hợp tác phát triển kinh tế.

– Rà soát, Ban chỉ đạo củng cố hợp tác phát triển kinh tế ở cấp huyện; phân công trách nhiệm cho các phòng ban bố trí cán bộ chuyên chuyên nghiệp với chuyên môn phù hợp trong việc thực hiện quản lý nhà nước của hợp tác kinh tế tại địa phương.

– Làm việc chặt chẽ với Sở Kế hoạch và Đầu tư, hướng dẫn Liên minh Hợp tác xã tỉnh tổ chức lại hợp tác xã trên địa bàn tỉnh theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và Nghị định số 193/2013 / NĐ-CP ngày 21/11 / 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã. Đồng thời, chỉ đạo các hợp tác xã giải quyết các hoạt động nhàn rỗi hoặc không hiệu quả, giải thể bắt buộc hoặc chuyển sang các hoạt động khác tổ chức theo quy định.

– Xây dựng và đưa các chỉ số phát triển hợp tác xã để có kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng năm cho mỗi xã, phường, thị trấn để tăng cường hơn nữa sự chỉ đạo quản lý, điều hành của chính quyền địa phương đối với sự phát triển của hợp tác kinh tế tại địa phương.

– Rà soát, bao gồm trong quá trình phê duyệt hàng năm quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất theo quy định làm cơ sở cho hợp tác xã (có căn cứ để xây dựng trụ sở và kinh doanh cơ sở sản xuất, …) thuê đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013 và văn bản hướng dẫn.

– Tổ chức một cuộc họp hội nghị, một cuộc đối thoại thường niên với việc tổ chức các hoạt động hợp tác kinh tế trên địa bàn tỉnh để lắng nghe, để thu thập ý kiến ​​và đề nghị, đề xuất và biện pháp chỉ đạo kịp thời để giải quyết khăn khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hợp tác kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa phương.

Văn bản liên quan đến Quyết định 961/QĐ-UBND năm 2017 Đề án phát triển kinh tế hợp tác tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020

Chỉ thị 04/CT-UBND năm 2017 về tăng cường vai trò của các sở, ngành, cấp ủy, chính quyền địa phương trong phát triển kinh tế tập thể và mô hình hợp tác xã trên địa bàn do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình ban hành
Chỉ thị 22/CT-UBND năm 2016 về đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn gắn với mục tiêu xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016-2020
Thông tư 340/2016/TT-BTC hướng dẫn về mức hỗ trợ và cơ chế tài chính hỗ trợ bồi dưỡng nguồn nhân lực của hợp tác xã, thành lập mới hợp tác xã, tổ chức lại hoạt động của hợp tác xã theo Chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015-2020 do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
Chỉ thị 17/CT-UBND năm 2016 về đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể và hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Yên Bái
Chỉ thị 19/CT-TTg năm 2015 về đẩy mạnh triển khai thi hành Luật Hợp tác xã do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Luật ngân sách nhà nước 2015
Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015
Quyết định 14/2015/QĐ-UBND về Quy định chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, giai đoạn 2015 – 2020
Quyết định 2261/QĐ-TTg năm 2014 phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015-2020 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Luật đất đai 2013
Nghị định 193/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật hợp tác xã
Kết luận 56-KL/TW năm 2013 về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể
Luật hợp tác xã 2012
Luật các tổ chức tín dụng 2010
Chỉ thị 20-CT/TW năm 2008 về tăng cường lãnh đạo thực hiện nghị quyết hội nghị Trung ương 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể do Ban Bí thư ban hành

Bài viết khác

Comments are closed.