Luật Doanh Nghiệp 2014 – 2015 mới nhất

LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 – 2015

Số hiệu: 68/2014/QH13 Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội Người ký: Nguyễn Sinh Hùng
Ngày ban hành: 26/11/2014 Ngày hiệu lực: 01/07/2015
Ngày công báo: 30/12/2014 Số công báo: Từ số 1175 đến số 1176
Tình trạng: Còn hiệu lực

Một số điểm mới trong Luật Doanh nghiệp 2014 – 2015
Quốc hội vừa ban hành Luật Doanh nghiệp 2014, bao gồm nhiều điểm nổi bật mới, đáng chú ý là:
– Con dấu: Doanh nghiệp có quyền quyết định số lượng, hình thức và nội dung con dấu của doanh nghiệp.
– Người đại diện theo pháp luật: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần được quyền có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật; Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh, quyền và nghĩa vụ của từng người đại diện.
– Khi thành lập doanh nghiệp, người nộp đơn phải nộp hồ sơ tư pháp theo yêu cầu của cơ quan đăng ký kinh doanh.
Luật này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2015.
[pdfviewer width=”100%” height=”550px” beta=”true/false”]https://luathungphat.vn/wp-content/uploads/2018/07/259730.pdf[/pdfviewer]

Tải bản PDF

Tải Văn bản tiếng Việt

7 Điểm khác biệt giữa Luật Doanh Nghiệp mới và cũ

Theo hội thảo, những điểm nổi bật của Luật Doanh nghiệp sửa đổi năm 2014, vừa được Quốc hội khoá 13 thông qua ngày 26/11, đã được phổ biến đến các doanh nghiệp. Theo đó, Luật Doanh nghiệp sửa đổi năm 2014 có những điểm nổi bật mới sau đây:
Thứ nhất, đăng ký kinh doanh.
Luật Doanh nghiệp được sửa đổi trong năm 2014 với mục đích làm cho doanh nghiệp trở thành một công cụ kinh doanh rẻ hơn và an toàn hơn để thu hút các nhà đầu tư, tăng thu hút đầu tư và huy động mọi nguồn lực và vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Trên cơ sở đó, Luật Doanh nghiệp sửa đổi năm 2014 đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà không cần đăng ký kinh doanh bắt buộc. Tách giấy chứng nhận đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Bãi bỏ các yêu cầu và điều kiện kinh doanh tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp; Hài hoà thủ tục đăng ký kinh doanh với thuế lao động và bảo hiểm xã hội; Doanh nghiệp quyết định con dấu, nội dung và mẫu dấu; Doanh nghiệp có thể có nhiều hơn một đại diện theo pháp luật.
Thứ hai là về kinh doanh vốn điều lệ.
Về vốn, để giải quyết các vấn đề và tranh chấp phát sinh trong thực tế, các quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 đã được áp dụng. Theo đó, Luật Doanh nghiệp sửa đổi năm 2014 đã áp dụng thống nhất thời gian góp vốn thanh toán đầy đủ khi thành lập công ty; Thống nhất về khái niệm vốn chủ sở hữu của công ty cổ phần như cổ phiếu phát hành và cổ phiếu phát hành; Vị trí riêng của một công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng.
Thứ ba, mô hình quản trị doanh nghiệp.
Có nhiều mô hình quản trị doanh nghiệp trên thế giới như mô hình bảng hai cấp, mô hình bảng một cấp. Tại Việt Nam, công ty trước đó đã quản lý một công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2005. Theo đó, cơ cấu bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Giám đốc / Tổng giám đốc và Ban kiểm soát.
Nhưng đối với mô hình quản trị doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, cơ cấu mô hình sẽ bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị (thành viên, thành viên độc lập), Giám đốc / Tổng giám đốc.
Thứ tư, quy trình ra quyết định của công ty.
Luật Doanh nghiệp 2014 yêu cầu tỷ lệ biểu quyết phải được Đại hội đồng cổ đông thông qua đến 51% đối với các quyết định thông thường và 65% đối với các quyết định quan trọng.
Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng mở rộng nội dung để cho phép công ty xác định cụ thể hơn các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp.
Thứ năm, bảo vệ cổ đông.
Luật DN 2014 có quy định chi tiết về cổ đông phổ thông và cổ đông ưu tiên biểu quyết, cổ đông ưu đãi cổ tức. Cổ đông ưu đãi được hoàn trả, cổ đông sáng lập.
Thứ sáu, tổ chức lại, giải thể.
Luật quy định rõ từng trường hợp giải thể và trình tự giải thể bao gồm các bước sau: Quyết định giải thể doanh nghiệp phải được ban hành, trong đó nêu rõ lý do giải thể, sau đó tiến hành thanh lý tài sản và ưu tiên trả nợ. Thuế.
Bảy là, điểm mới trong quản lý doanh nghiệp nhà nước.
Luật Doanh nghiệp 2014 bổ sung một chương hoàn toàn mới về các doanh nghiệp nhà nước. Đây là nội dung lâu đời không có luật cụ thể. Trong đó, quy định về lĩnh vực kinh doanh của nhà nước. Ngoài ra, pháp luật quy định về cơ cấu tổ chức quản lý và vận hành, tiết lộ định kỳ và công khai bất thường.
Bốn lĩnh vực của các doanh nghiệp nhà nước là:
– Doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội.
– Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh.
– Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên.
– Các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển các ngành, lĩnh vực và nền kinh tế.

Văn bản liên quan đến LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 – 2015

+ Luật hợp tác xã 2012
+ Quyết định 1089/QĐ-BGTVT năm 2011 về thành lập Công ty mẹ – Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
+ Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990